Giới thiệu  >  Sơ đồ tổ chức 
New Page 1


TỔNG QUAN
 

TỈNH TRÀ VINH


Diện tích tự nhiên, địa giới hành chính
Trà Vinh là một tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu long, nằm ở toạ độ địa lý 9o31' đến 10o04' vĩ độ Bắc và 105o57' đến 106o36' kinh độ đông. Phía đông và đông nam giáp biển Đông, có chiều dài bờ biển là 65 km; phía nam và tây nam giáp tỉnh Sóc Trăng, có ranh giới là sông Hậu, dài hơn 60 km; phía tây và tây bắc giáp tỉnh Vĩnh Long, có ranh giới là những rạch nước và giồng đất, dài gần 60 km; phía bắc và đông bắc giáp tỉnh Bến Tre, có ranh giới là sông Cổ Chiên (một nhánh của sông Tiền), dài 60 km.

Trà Vinh là tỉnh ven biển của đồng bằng sông Cửu Long. Trà Vinh nằm giữa hai nhánh sông Tiền và sông Hậu, có diện tích đất tự nhiên khoảng 2.369km2. Trong đó, diện tích đất sản xuất nông nghiệp, chiếm khảng hơn 62%. Dân số khoang 1.000.000 người, dân tộc Khmer, chiếm 30% dân số. Bình quân thu nhập (nội địa) năm 2002 là 350 USD/đầu người (tăng 74% so với lúc mới tách ra khỏi tỉnh Cửu Long năm 1992).
 

Lãnh thổ tỉnh Trà Vinh nằm kẹp giữa 2 con sông lớn, có hình thể như một tứ giác, một vùng châu thổ được hình thành từ lâu đời nhưng cũng bao gồm những vùng đất trẻ mới bồi. Trải qua những thăng trầm của lịch sử và thời gian, đất Trà Vinh bị chi phối bởi những quy luật kiến tạo địa chất cùng những lần "biển tiến", "biển lùi", v.v. .. Có thể xem vùng đất này như con đẻ của sông Mê - Kông và biển Đông. Hai chi lưu của dòng Mêkông (sông mẹ) là sông Hậu và sông Cổ Chiên đã, đang và sẽ tiếp tục cần vận chuyển tải phù sa để không ngừng bồi đắp cho vùng đất này vươn dài ra biển.

Đất Trà Vinh là một dải đồng bằng ven biển, không có núi đồi, độ cao trung bình từ 2m đến 3m so với mực nước biển. Nhìn chi tiết, dải đất đồng bằng Trà Vinh có nhiều chỗ gợn lên như lớp sóng, bởi tác động của thuỷ triều biển Đông trên vùng đất phù sa bồi tụ. Người ta gọi những chỗ đất gợn lên như vậy là "gò", là "giồng" và đặt tên cho từng gò, giồng đất đó. Hợp chất đất ở các gò, giồng là cát pha sét, một số nơi có phù sa mùn. Các giồng gò thường trải dài theo hướng đông bắc - tây nam. Nó có kích thước khác nhau về chiều rộng, chiều dài và độ cao; chiều rộng khoảng từ 100 m đến 200 m, chiều dài khoảng từ 400 m đến 2000 m, độ cao từ 2 m đến 5 m so với mực nước biển. Hiện nay trên lãnh thổ Trà Vinh có hàng trăm giồng đất như thế, song mật độ phân bố và tuổi các giồng đất có khác nhau, nói chung càng gần biển các giồng đất càng thêm dầy và trẻ.

Cũng như các tỉnh trong vùng đồng bằng sông Cửu Long, Trà Vinh có mạng lưới sông rạch và kênh đào chằng chịt và phân bố tương đối đều như mạch máu trên khắp cơ thể tự nhiên của tỉnh, tính trung bình cứ 100 m2 diện tích tự nhiên có tới 10 m2 diện tích mặt nước. Có thể phân chia mạng lưới sông rạch và kênh đào ở Trà Vinh thành 3 hệ thống: hệ thống đổ ra biển nằm trên địa bàn huyện Duyên Hải; hệ thống sông rạch đổ ra sông Cổ Chiên nằm trên địa bàn thị xã Trà Vinh, huyện Càng Long, Châu Thành, Cầu Ngang; hệ thống đổ ra sông Hậu nằm trên huyện Cầu Kè, Tiểu Cần, Trà cú. Các hệ thống sông rạch và kênh đào nói trên giao nhau, tạo nên một mạng lưới lưu thông và điều hoà thuỷ mực các nguồn nước cung cấp cho địa bàn Trà Vinh: nước sông Hậu, sông Cổ Chiên, nước biển, nước mưa,v.v... Mạng lưới sông rạch ấy không chỉ có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với việc tưới tiêu cho cây trồng, mà còn không ngừng đem nguồn phù sa vô tận trên dòng chảy sông Mê kông bồi đắp cho dải đất Trà Vinh.

Trà Vinh có một vùng biển khá độc đáo với 65 km bờ biển, giới hạn bởi 2 cửa sông: cửa Cung Hầu (cửa sông Cổ Chiên) và cửa sông Định An (của sông Hậu). Đây là 2 cửa sông rộng lớn, là bãi đẻ thích hợp cho nhiều loài thuỷ sản. Vùng biển Trà Vinh có độ sâu vừa phải (từ 5,5 đến 24 m). Bãi biển ít cát, nhiều phù sa, nên phần lớn bờ biển là bãi bùn.

Hệ thống kênh, rạch, sông, biển ở Trà Vinh có ý nghĩa quan trọng đối với các lĩnh vực đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội... Ngoài chức năng tưới tiêu và vun bón phù sa cho cây trồng, hệ thống này còn là môi trường lý tưởng cho việc đánh bắt và nuôi trồng thuỷ sản, tạo nên mạng lưới giao thông thuỷ thuận lợi góp phần tích cực vào quá trình tiếp xúc và giao lưu văn hoá của Trà Vinh với những miền quê khác và còn là nhân tố cần thiết cho việc điều hoà khí hậu và cân bằng sinh thái.

Khí hậu thuỷ văn
Trà Vinh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, nóng ẩm quanh năm và chia ra 2 mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11; mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau, lượng mưa trung bình từ 1400 mm đến 1600 mm. Nằm trong vùng vĩ độ thấp nên Trà Vinh tiếp nhận được nhiều nắng, trung bình mỗi năm có trên 2500 giờ nắng, nhiệt độ trung bình hàng năm từ 25o C đến 27oC, độ ẩm trung bình năm 80 - 85%... Chế độ gió trong năm thường phân bố như sau: từ tháng 1 - 2 gió theo hướng đông nam từ cấp 3 - cấp 4 thường gọi là "gió chướng", tháng 3 đến tháng 4 gió chuyển đổi hướng đông nam, tháng 5 và tháng 6 có gió mùa tây nam là chính, là thời điểm hội tụ gió mùa, bắt đầu những đợt mưa dông; và từ tháng 7 đến tháng 12 gió mùa chuyển dần theo hướng đông nam gây mưa nhiều, rồi chuyển sang hướng đông bắc. Trà Vinh nằm trên ven biển Đông nhưng rất hiếm khi có bão.

Trà Vinh là một tỉnh ven biển, có nhiều sông, rạch, kênh đào, trực tiếp nhận các nguồn nước từ sông Mê Kông, nước mưa và nước biển Đông. Lượng dòng chảy của sông Hậu và sông Cổ Chiên rất cao trên lãnh thổ Trà Vinh: khoảng 1500 m3/giây vào mùa khô và 6000 m3/giây vào mùa mưa lũ. Biển Trà Vinh nằm trong vùng biển có chế độ bán nhật triều, mỗi ngày có 2 lần nước lên và 2 lần nước xuống, chênh lệch đỉnh triều với chân triều từ 1 - 2,5 m vào những ngày triều kém và từ 2,5 - 3,5 m vào những ngày triều cao. Đặc điểm lớn của thuỷ văn ở Trà Vinh là dòng chảy phức tạp và bị chi phối bởi thuỷ triều biển Đông.

Chu kỳ thuỷ triều cường nhược ở đây là 15 ngày, đỉnh triều cường thường xuất hiện sau ngày 1 và ngày 15 âm lịch. Đỉnh triều nhược thường xuất hiện sau ngày 7 và 23 âm lịch. Biển và mạng lưới sông rạch dầy đặc đã làm cho ảnh hưởng cường, nhược của thuỷ triều ăn sâu vào đất luôn tạo ra sự xâm nhập của nước mặn vào nội địa. Điều kiện thuỷ văn của Trà Vinh tác động đến nhiều mặt sinh hoạt của con người. Nó có ý nghĩa tích cực đối với các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, đánh bắt thuỷ hải sản và giao thông đường thuỷ, đồng thời lại gây nên những hạn chế nhất định đến việc cung cấp nước ngọt cho sinh hoạt và giao thông đường bộ.



CÔNG TY XNK & LƯƠNG THỰC TRÀ VINH (IMEX TRAVINH)
 


Trụ sở chính:
Ấp Vĩnh Yên, Xã Long Ðức, Thị xã Trà Vinh, Tỉnh Trà Vinh
Ðiện thoại: (074) 846581 - 846586 
Fax
: (074) 846582  - Email:
imextvpkh@hcm.vnn.vn
Chi nhánh: Số 27 Bùi Thị Xuân, Phường Bến Thành, Quận 1, TP. Hồ Chí Minh
Ðiện thoại: (08) 8331852 - 8334171 
Fax
: (08) 8324556 - Email:
imexvt@hcm.vnn.vn
Website: www.imextravinh.com

Tiền thân là Công ty Ngoại thương Cửu Long thành lập năm 1977, sau đổi tên là Liên hiệp Công ty Xuất nhập khẩu Cửu Long (1981). Năm 1991, để chuẩn bị cho việc tách tỉnh Cửu Long thành hai tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh (chính thức năm 1992), UBND tỉnh Cửu Long đã thành lập Công ty Liên hiệp Xuất nhập khẩu Trà Vinh, cuối năm 1994 đổi tên thành Công ty Xuất nhập khẩu và Lương thực Trà Vinh: là một trong những thành viên trực thuộc Tổng Công ty Lương thực Miền Nam từ năm 1995. Công ty XNK & Lương thực Trà Vinh có chức năng xuất nhập khẩu trực tiếp các hàng hoá tổng hợp; xuất khẩu gạo từ năm 1989. Năm 2001, Công ty xây dựng mới một xí nghiệp trực thuộc để chế biến thủy hải sản xuất khẩu tại huyện Duyên Hải.

Công ty Xuất nhập khẩu và Lương thực Trà Vinh đã được tổ chức SGS Vương quốc Anh công nhận đạt hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế ISO 9001-2000 (giấy chứng nhận số TW03/01742 QA ngày 10/11/2003).

Công ty Xuất nhập khẩu và Lương thực Trà Vinh có khả năng cung ứng & xuất khẩu tất cả các loại gạo trắng dài hạt, gạo thơm; giao 5.000 - 10.000 mỗi chuyến hàng bằng tàu rời hoặc containers; đáp ứng theo yêu cầu đóng bao từ 5kgs - 50 kgs (sắp tới sẽ phát triển đóng hàng gạo cao cấp và gạo thơm đựng trong các túi nhỏ từ 1 kg - 5 kgs cho các kênh siêu thị trong và ngoài nước).
 

 

Trụ sở hiện nay     

                  Trụ sở mới

 Công ty là thành viên của các Hiệp hội:
Hiệp Hội Xuất Khẩu Lương Thực Việt Nam (VIETFOOD).
Hiệp Hội Thuỷ Sản Việt Nam (VASEP).

 Các hoạt động chính của Công ty là:
Chế biến và xuất khẩu gạo các loại (chủ yếu là gạo trắng hạt dài).
Chế biến và xuất khẩu các loại thuỷ hải sản.
Nuôi cá bè công nghiệp
Cung ứng lao động ra nước ngoài.
Xuất khẩu các mặt hàng nông sản khác.
Ðại lý phân phối sản phẩm tại tỉnh Trà Vinh (xe gắn máy, thực phẩm nuôi tôm giống và các hàng hoá nhu yếu khác, …).
Nhập khẩu các mặt hàng như phân bón, máy móc thiết bị nông nghiệp và các mặt hàng nhu yếu phục vụ nhu cầu trong tỉnh.
 

Xem chi tiết

SƠ ĐỒ TỔ CHỨC & THÀNH VIÊN
BAN GIÁM ĐỐC